Làm gì để bảo vệ 3,81 triệu ha đất trồng lúa?

Read the original news 

Nhân dân English - 30 month(s) ago 4 readings

Lam gi de bao ve 3,81 trieu ha dat trong lua?

Ở nhiều nơi, đất trồng lúa ngày càng bị thu hẹp nhường chỗ cho các văn phòng, khu chung cư, khu công nghiệp. Ảnh: NGUYỄN ĐĂNG

Mừng lo đất chuyển đổi

"Mất 1ha đất trồng lúa tôi cũng tiếc chứ chưa nói gì đến mỗi năm mất tới hơn 37 nghìn ha đất trồng lúa. Thật quá xót xa" - Viện trưởng Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Lê Văn Bảnh mở đầu câu chuyện. Đúng là xót xa khi nhìn vào thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chỉ tính riêng giai đoạn 2000 - 2009, diện tích đất trồng lúa cả nước đã giảm tới 378 nghìn 700 ha, tốc độ giảm 1%/năm. Diện tích đất trồng lúa giảm tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng, ven đô thị do chuyển đổi nuôi trồng thủy sản, phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị hóa. Các vùng có diện tích đất trồng lúa giảm nhiều là ĐBSCL giảm 217.900 ha (chiếm 57% tổng diện tích), Đông Nam Bộ giảm 71 nghìn 300 ha (chiếm 18,1%), đồng bằng sông Hồng giảm 59.400 ha (chiếm 14,4%). Trong đó, một số tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm quốc gia có tốc độ phát triển công nghiệp và đô thị hóa nhanh cho nên tốc độ giảm đất trồng lúa cũng khá cao. Ở phía bắc, giai đoạn 2000 - 2009, tốc độ giảm đất trồng lúa tại Thủ đô Hà Nội là 3%/năm; Hưng Yên giảm 2,2%/năm; Hải Dương giảm 2,5%/năm. Ở phía nam, TP Hồ Chí Minh giảm 8%/năm, Bình Dương giảm 6,6%/năm.

Không ai phủ nhận việc chuyển đổi đất trồng lúa đã tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp, phá thế độc canh cây lúa, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho hàng triệu hộ dân vùng ĐBSCL, ven biển miền trung và miền núi phía bắc. Chỉ riêng diện tích chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản đã góp phần làm cho giá trị xuất khẩu thủy sản tăng mạnh, tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2009 đạt 4,2 tỷ USD, tăng gấp ba lần so với năm 2000, đưa nước ta trở thành nước xuất khẩu thủy sản lớn trên thế giới. Đáng chú ý, việc chuyển đất trồng lúa sang mục đích phi nông nghiệp đã góp phần nâng giá trị sử dụng đất lên hàng chục, thậm chí hàng trăm lần. Năm 2009, bình quân GDP/ha đất nông nghiệp chỉ là 9,1 triệu đồng/ha, trong khi trên đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp đạt bình quân 2,1 tỷ đồng/ha (cao gấp 230 lần so với sản xuất nông nghiệp). Các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu du lịch đã tạo điều kiện thu hút lao động từ lĩnh vực nông nghiệp, giảm sức ép dư thừa trong lao động nông thôn. Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật được đầu tư xây dựng vừa phục vụ phát triển dân sinh vừa thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Nhờ đó đời sống người dân dần dần được nâng lên, bộ mặt nông thôn có những thay đổi đáng kể.

Tuy nhiên, việc chuyển đổi ồ ạt đất trồng lúa cũng đang bộc lộ nhiều hạn chế. Như việc chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản đã có tác động tiêu cực đến môi trường đất và nước. Năng suất lúa ở gần các khu vực nuôi thủy sản nước mặn và nước lợ bị giảm từ 30 đến 50%. Ngoài ra, nhiều hộ gia đình tự ý chuyển đổi nhưng không quản lý được dịch bệnh và hệ thống thủy lợi phục vụ thủy sản kém cho nên dẫn đến phá sản. Trong khi đất đai bị nhiễm mặn, muốn quay về trồng lúa cũng không được. Còn tại những nơi đất trồng lúa trở thành khu công nghiệp, cũng đang đặt ra nhiều vấn đề về hiệu quả kinh tế - xã hội của các dự án cũng như thực chất đời sống người nông dân nơi đây.

Lãng phí đất "bờ xôi ruộng mật"

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến năm 2010, cả nước có 267 khu công nghiệp, tập trung chủ yếu ở vùng Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Hồng và ĐBSCL, với tổng diện tích 72 nghìn ha, tỷ lệ lấp đầy bình quân đạt gần 46%. Ngoài ra, cả nước còn 28 nghìn ha đất của 650 cụm công nghiệp, diện tích đã cho thuê hơn 10 nghìn ha, tỷ lệ lấp đầy bình quân đạt 44%. Trong đó, theo thống kê của Phòng Thương mại, Công nghiệp Việt Nam, chỉ tính riêng vùng ĐBSCL, hiện có 20 khu công nghiệp lấn vào diện dích đất trồng lúa, với tổng diện tích 3.645 ha, diện tích cho thuê đạt 810 ha (chiếm tỷ lệ khoảng 22%). Ngoài ra, các tỉnh trong vùng còn có 177 cụm công nghiệp, với tổng diện tích hơn 15.400 ha, có 15 cụm được doanh nghiệp thuê với diện tích 700 ha (chiếm 4,5%).

Như vậy, đang có tới 17 nghìn 690 ha đất công nghiệp (trong tổng số 19 nghìn 102 ha) bị bỏ trống, chiếm hơn 92% diện tích. Diện tích đất bỏ trống ở nhiều nơi đã khiến các khu vực này xảy ra những chuyện ngược đời là nông dân xin thuê lại đất quy hoạch khu công nghiệp để trồng lúa, trồng màu. Còn một bộ phận lớn nông dân khác thì buộc phải di cư lên thành phố kiếm việc làm, tăng sức ép dân số lên khu vực thành thị, đồng thời cũng gia tăng những vấn đề xã hội khác cho khu vực nông thôn.

Khu công nghiệp Tân Liên, xã Tân Liên, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng được xây dựng từ năm 2009 với diện tích hơn 150 ha, với các ngành nghề như may mặc, giày dép, lắp ráp linh kiện điện, điện tử... nhưng đến nay chưa lấp đầy được 50%. Đi một vòng quanh khu công nghiệp, nhận thấy cảnh các thửa đất bỏ hoang, cỏ dại um tùm, thậm chí có nơi trở thành chỗ thả trâu bò. Anh Nguyễn Anh Thắng, thôn Cao Hải cho chúng tôi biết: Khi triển khai dự án khu công nghiệp, gia đình anh mất ba sào đất trồng lúa, giờ chỉ còn hơn một sào. Anh chuyển từ làm ruộng ra làm nghề xe ôm. Thời điểm lấy đất trồng lúa làm khu công nghiệp, anh được đền bù 21 triệu đồng/sào. "Số tiền ấy ăn tiêu hết rồi, giờ làm gì còn. Tôi bây giờ chạy xe ôm, vợ bán nước chè, được đồng nào hay đồng ấy. Ruộng còn hơn một sào, chẳng đủ gạo ăn ấy chứ. Lúc nhận tiền cũng tiếc ruộng nhưng hàng chục triệu đồng hồi ấy còn giá trị cho nên không lăn tăn nhiều. Giờ mới thấy hẫng quá. Trong khi những người như chúng tôi, ngoài 40 tuổi rồi, lại không có tay nghề, khu công nghiệp nào dám tuyển dụng. Mất ruộng, giờ cũng chả có nghề gì ổn định, nhìn bãi đất khu công nghiệp bỏ hoang càng xót ruột hơn. Trước cứ nghĩ làm nông nghiệp là nặng nhọc, bây giờ không có ruộng còn nhọc hơn. Trước không có tiền thì vẫn có gạo ăn, giờ không có tiền thì gạo cũng không có. Mà lớp thanh niên trẻ vào khu công nghiệp đâu có dễ. Làng tôi khối đứa phải bỏ đấy, vì trình độ văn hóa thấp, học nghề khó vào, công việc đòi hỏi kỷ luật cao, làm khắc nghiệt quá, không chịu được, đành lên thành phố làm thuê, nếu ở nhà thì thất nghiệp" - Anh Thắng thở dài.

Việc chuyển đổi đất trồng lúa ồ ạt, không theo đúng quy hoạch còn khiến bộ mặt nông thôn có những thay đổi chóng mặt, nhất là nhiều làng quê êm đềm bị phá vỡ. Điển hình như xã Kim Hoa, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ), nay thuộc thành phố Hà Nội. Vào những năm 2004- 2005, người dân bán đất trồng lúa cho khu công nghiệp với giá trung bình chỉ 17 triệu đồng/sào. Có tiền, mất ruộng, nhiều hộ chuyển sang kinh doanh buôn bán. Làng quê bị đô thị hóa, trong khi nhiều điều kiện cần và đủ cho sự chuyển đổi chưa có nên dẫn đến những hỗn loạn với gia tăng các tệ nạn xã hội. Chị Ngô Thị Bảy tâm sự: Trước gia đình cũng có ba sào đất trồng lúa, nhưng đã bán hết cho khu công nghiệp. Cứ nghĩ sau đó chuyển sang làm công nhân cho thu nhập cao hơn nhưng mình quá tuổi, họ không nhận. Giờ tôi chỉ làm quét dọn ở đó với mức lương 900 nghìn đồng/tháng, trong khi từ gạo đến rau đều phải mua vì không có đất trồng lúa, hoa màu cho nên đời sống rất khó khăn. Câu chuyện của anh Thắng hay chị Bảy chỉ là một lát cắt nhỏ trong những mặt trái của việc chuyển đổi đất trồng lúa. Như Giám đốc Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL Nguyễn Văn Sánh phân tích: Việc chuyển đổi đất trồng lúa diễn ra trong một thời gian dài đã cho chúng ta những kiểm chứng rõ nét về sự tích cực cũng như mặt tiêu cực của nó. Ở đó, cái được có thể tính bằng con số cụ thể, nhưng cái mất thì khó mà đong đếm. Ở ĐBSCL, nhiều nông dân mất đất đã từng được bố trí vào làm tại các khu công nghiệp. Nhưng khủng hoảng kinh tế khiến một số doanh nghiệp phải thu nhỏ quy mô và dừng sản xuất dẫn đến một bộ phận không nhỏ công nhân phải quay trở lại nông thôn. Lúc ấy đất sản xuất không còn, tạo nên sức ép về giải quyết lao động rất nặng nề. Nên một bài toán kinh tế mà lời giải chỉ đáp ứng được lợi ích trước mắt mà bỏ ngỏ lợi ích lâu dài thì chưa phải là một lời giải đúng. Giám đốc Nguyễn Văn Sánh còn nhấn mạnh: Việc mất đất trồng lúa mặc dù đã có những tác động lớn lên sự phát triển kinh tế - xã hội và đời sống người dân, nhưng sẽ là báo động trầm trọng khi nó trở thành nguyên nhân của tình trạng thiếu lương thực trong tương lai. Có thể có người vẫn nghĩ đó chỉ là cảnh báo xa xôi trong điều kiện dư thừa gạo xuất khẩu hiện nay nhưng theo tôi, phải nhìn nhận thật sự nghiêm túc cảnh báo này.

(Còn nữa)

ÁNH TUYẾT

Related keywords

Named entities
Informal terms & idioms
Phrases
Proper nouns

There is no comment

Please Sign up or Login to comment.

Top page