3- Lạ lùng tác chiến tăng thiết giáp B2

Read the original news 

Nhân dân English - 29 month(s) ago 17 readings

3- La lung tac chien tang thiet giap B2

Thiếu tướng Mai Văn Phúc, nguyên Đoàn trưởng kiêm chính ủy Đoàn 26 Tăng thiết giáp Miền, Nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 7

Xe chưa xung trận, người xung trận trước

Nhờ sự giới thiệu của các CCB Ban liên lạc truyền thống Tăng thiết giáp Nam Bộ, các anh Lê Cát Lợi, Nguyễn Công Thành, Lê Anh Dũng, Nguyễn Tuấn Minh…ông thân tình tiếp tôi tại gia, ấm áp và tin cậy như người trong nhà. Câu chuyện của ông, trước sau vấn ấp ủ một niềm tự hào, những kỷ niệm chiến tranh, tình với đồng đội và một khát vọng một ngày Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT cho Đoàn M 26 Tăng thiết giáp Miền – đơn vị đi liền với sự ra đời, trưởng thành của bộ đội tăng thiết giáp miền Đông Nam bộ.

Đời ông khá tiêu biểu cho một cho thế hệ sĩ quan chỉ huy xe tăng Việt Nam. Thoát ly đi chiến đấu ở chiến trường Liên Khu 5 từ rất sớm, kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, ông tập kết ra Bắc. Quyết định của Đảng, Nhà nước và Quân đội chuẩn bị tạo nguồn xây dựng các binh chủng hiện đại như tăng thiết giáp, không quân, hải quân…đã dần hiện thực hóa mơ ước của người lính cụ Hồ thời chống Pháp như ông “trong tay chỉ có khẩu súng trường Mútcơtông, vài quả lựu đạn, mặc quần xà lỏn đi đánh giặc, nay sắp được “cưỡi” xe tăng trên tháp pháo có ngôi sao màu đỏ, vượt Trường Sơn về giải phóng quê hương”

Năm 1955, khi đang là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn trợ chiến, Trung đoàn 93, Sư 324, ông được cử đi học lớp bổ túc văn hóa tại trường D126 ở Hải Phòng, chuyên dạy văn hóa cho cán bộ chưa học hết cấp 2, cấp 3 và bồi dưỡng văn hóa, ngoại ngữ cho cán bộ chiến sĩ trước khi gửi sang Liên Xô, Trung Quốc đào tạo. Ông là một trong số 202 cán bộ đầu tiên đi đào tạo xe tăng tại Trung Quốc và ngày 5-10-1959, khi Trung đoàn xe tăng đầu tiên của QĐND Việt Nam thành lập mang phiên hiệu Trung đoàn 202 gồm ba tiểu đoàn thì ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3.

Rồi cũng chính ông cùng cán bộ kỹ thuật Lâm Kim Chung, tháng 4-1964 đã nhận lệnh Bộ tăng cường trở lại miền Nam xây dựng lực lượng tăng thiết giáp Miền theo tinh thần chỉ đạo “xe chưa xung trận thì người xung trận trước”.

“Đó là chỉ đạo của Thượng tướng Văn Tiến Dũng- Tổng Tham mưu trưởng từ năm 1963, trong điều kiện chưa thể bảo đảm cho các loại xe tăng - thiết giáp hành quân vào Nam hàng nghìn cây số trên đường Trường Sơn” ông kể.

Ba nhiệm vụ kéo dài suốt từ đầu năm 1964 cho đến 30-4-1975 giải thích chuyện ngược đời của lính tăng “người xung trận trước” là: Nắm tình hình xe địch để làm tham mưu cho Bộ; Cùng các đơn vị tiếp cận địch đánh địch lấy xe địch; Kết hợp chuẩn bị chiến trường, khi miền Bắc đưa xe vào thì đánh được ngay.

Không xe, đánh kiểu đặc công đến bất ngờ “xe tăng Bắc Việt”

Và từ đó, bắt đầu những đặc sắc từ thực tiễn chiến trường: cán bộ xe tăng làm việc ở… Phòng quân báo Miền; cán bộ xe tăng nằm trong cơ cấu Ban Cơ giới miền- Cơ quan của Binh chủng tăng thiết giáp B2 với nhiệm vụ nghiên cứu đặc điểm, tính năng xe tăng thiết giáp của địch, tìm cách “đoạt” xe địch để xây dựng lực lượng, sử dụng xe cơ giới thu được để vận chuyển thương binh, vũ khí, lương thực, đạn dược, cán bộ; hoạt động theo phương châm của… binh chủng đặc công: lấy ít địch nhiều, luồn sâu, đánh hiểm, “đánh đặc công, đoạt xe địch đánh địch”

Với sự chi viện liên tục các đoàn cán bộ tăng thiết giáp như đoàn C15 vào năm 1964, đoàn 771 vào năm 1965 đông nhất với quân số biên chế một trung đoàn rút gọn, lực lượng tăng thiết giáp B2 đã được cơ cấu lại thành J16 Cơ giới Miền tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đoạt bằng được xe địch, và trận Gò Đậu đánh thẳng vào căn cứ của Trung đoàn thiết giáp số 1 của ngụy năm 1965 là một minh chứng sáng tạo.

Chắc chỉ có ở Việt Nam mới có kiểu bộ đội xe tăng J16 Cơ giới Miền (không có xe tăng) phối hợp Sư đoàn 9, Tỉnh đội Bình Dương, Ban Binh vận Trung ương Cục hợp đồng tác chiến với lực lượng khởi nghĩa của ta cài vào Trung đoàn thiết giáp số 1 ngụy do đồng chí Phùng Văn Mười chỉ huy, đánh nội công ngoại kích. Kết quả ta đã diệt gần 200 tên địch, thu phá hủy hơn 30 xe M41, M113 và đặc biệt lấy được chiếc M41 AL 247 do thiếu úy nội ứng Phùng Văn Mười lái an toàn về căn cứ tập kết, chuyển giao cho cán bộ kỹ thuật J 16 lái tiếp trong đêm tối vượt hơn 30 km đường rừng về căn cứ Long Nguyên.

Một án tử hình vắng mặt của quân đội Sài Gòn dành cho Phùng Văn Mười cùng quyết định của Tòa án binh ngụy tống giam Trung đoàn trưởng thiết giáp số 1 ngụy; Một quyết định của Trung ương Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất cho lực lượng khởi nghĩa Gò Đậu và cho cá nhân Thiếu úy Phùng Văn Mười, năm anh em khác trong lực lượng khởi nghĩa đã nhận Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì và Ba, đã cho thấy tầm vóc bước ngoặt của sự kiện này, đánh dấu bước trưởng thành của J16 Cơ giới Miền.

Chiếc xe “báu vật” và chiến công huyền thoại đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các đồng chí trong Bộ chỉ huy Miền như Tư Chí (Trần Văn Trà), Sáu Nam (Lê Đức Anh), Năm Ngà (Nguyễn Minh Châu). Việc “nuôi sống” chiếc xe để phục vụ huấn luyện và nghiên cứu là một kỳ công. Trong điều kiện địch thực hiện “thiết xa vận”và “trực thăng vận” lùng sục, đánh phá, bộ đội đã phải đào hầm rộng 4 mét, dài 8 mét, sâu 4 mét để giấu xe, chung quanh là hầm hào liên hoàn bảo vệ. Lực lượng giữ xe từ một trung đội, sau đó do địch đánh phá ác liệt, rút còn một tiểu đội cảm tử, có những đảng viên cảm tử đã chống càn tới viên đạn cuối cùng, hy sinh để bảo vệ xe.

Để giữ xe M41 “sống” được trong điều kiện bí mật phải hạn chế nổ máy để nạp ắc quy điện, anh em đã lợi dụng trời mưa để nổ máy (mùa mưa); lợi dụng lúc máy bay địch ném bom vào khu vực gần nơi đóng quân (mùa khô); thậm chí đồng chí Sáu Nam còn đề cập khả năng cho quân ta chủ động pháo kích vào khu vực để tạo tiếng ồn cho bộ đội tăng nổ máy nạp ắc quy điện, duy trì sự sống cho chiếc xe quý giá. Rồi chuyện tiếp tế xăng bằng cách mua xăng từ Bến Súc, cho vào can thả trôi trên sông, đến nơi vớt lên, đào hố, cho vào thùng phuy chôn xuống như những ngôi mộ giả, khi cần đào đất lên, dùng ống nhựa hút xăng, gùi về căn cứ.

Hồi ký của vị tướng đã kể lại sinh động lối đánh đặc công ban ngày, nhiều mũi nhiều hướng, đánh nở hoa trong lòng địch, đánh bồi đánh nhồi càng phát triển khi chiến tranh ngày một ác liệt. Bộ chỉ huy Miền sáp nhập B18 Đặc công với J16 Cơ giới thành Phòng Đặc công –Cơ giới (J16 Đặc Cơ). Sự phối hợp chặt chẽ giữa hai binh chủng Đặc công và Tăng thiết giáp chính là một sáng tạo độc đáo chỉ có ở mặt trận miền Đông Nam bộ, cho thấy tinh thần khắc phục khó khăn của bộ đội tăng thiết giáp B2.

Hàng loạt các trận đánh, chiến dịch: Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng, Thủ Đức, Gò Đậu, núi Bà Đen, Trảng Lớn, Dầu Tiếng, Bà Chiêm, Téc Ních, Đồng Dù, Chơn Thành, Lai Khê, Cà Tum, Tân Sơn Nhất, Trại Phù Đổng…giai đoạn từ 1963 đến 1969 mà cán bộ tăng thiết giáp tham gia, cho thấy một sự thật mà tác giả cũng không ngờ là “cán bộ chiến sĩ xe tăng do yêu cầu cách mạng đã xuống xe chiến đấu bằng chiến thuật đặc công” góp phần làm phá sản chiến thuật “trực thăng vận và “thiết xa vận của địch”. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nhận định: “Sau chiến thắng Ba Gia, Bàu Bàng, Đất Cuốc, quân đội ta tăng Mỹ là cái chắc. Nhưng thắng Mỹ không phải dễ đâu. Chúng đánh đến lúc ta không có gạo ăn, thiếu thuốc men và không còn đất ở chúng mới chịu” (Những chặng đường đời-tr 223).

Từ sau năm 1969, không còn phiên hiệu J16 Đặc Cơ nữa, song cán bộ chiến sĩ tăng- thiết giáp trong màu áo các đơn vị Lữ đoàn Đặc công 429, tiếp đó tách ra thành M26 Cơ giới Miền, vừa tiếp tục chiến đấu xây dựng lực lượng từ xe tăng thiết giáp của địch, vừa chuẩn bị cơ sở vật chất tiếp nhận lực lượng tăng thiết giáp từ miền Bắc hành quân vào chi viện cho chiến trường miền Nam.

Chuẩn bị cho chiến dịch Nguyễn Huệ, M26 đã hình thành hai lực lượng: Đại đội 33 tăng thiết giáp với các xe chiến lợi phẩm thu được của địch, đánh địch ở Sa Mát, Thiện Ngôn khiến chỉ huy địch phải hồ nghi tột độ “dọa đưa ra tòa án binh” kẻ báo tin thấy xe tăng Việt Cộng! ; Lực lượng thứ hai là hai Tiểu đoàn 20, 21, trang bị tăng T54, T59, xe bọc thép lội nước K63-85; BTR-50PK từ miền Bắc hành quân vào đánh địch.

Lịch sử đã ghi nhận một kỳ tích trên đường Hồ Chí Minh đó là cuộc hành quân của tiểu đoàn 20 xe tăng T54, M26 vào Nam- đoàn tăng-thiết giáp đầu tiên từ miền Bắc hành quân vào tận Đông Nam bộ, vượt gần 2000 km, trải qua đủ kiểu đánh phá, ngăn chặn, lùng sục của máy bay do thám, B52, thám báo, biệt kích để góp phần làm nên trận Lộc Ninh thắng lợi to lớn với yếu tố bất ngờ của xe tăng.

Rồi ngoạn mục cuộc hành quân vượt sông Vàm Cỏ Đông chở binh đoàn 232, BTL Sư đoàn 3, Sư đoàn 9, chở bộ binh thọc sâu đánh qua Quang Trung, Phú Lâm về Sài Gòn của tiểu đoàn 23 tăng -thiết giáp, M26 đánh vào Biệt khu thủ đô bắt sống tướng Lâm Quang Phát. Rồi một tình huống chiến tranh hiếm có, cuộc hành quân của đại đội 45 xe tăng bơi nước K63-85, Tiểu đoàn 23 vượt Đồng Tháp Mười chốt chặn lộ 4 chặn địch ở Sài Gòn và Cần Thơ không ứng cứu được cho nhau, đã bị sa lầy 49 lần, và đã tự kéo 39 lần qua Đồng Tháp Mười an toàn. Tiếp đó là cuộc vượt sông Vàm Cỏ Tây truy kích địch, xe tăng bơi nước bắn chìm một giang thuyền của địch trên sông...

Từ không đến có, tăng thiết giáp B2 đã làm nên những chiến thắng to lớn độc đáo, góp phần vào trang sử vẻ vang của binh chủng tăng thiết giáp Việt Nam

Giá của chiến thắng

Ngày 30-4-1975, khi hai chiếc xe tăng 390, 843 húc đổ Dinh Độc lập, khoảnh khắc lịch sử đó là kết cục tất yếu của ý chí của cả một dân tộc, một quân đội, một binh chủng đã làm nên chiến thắng nhờ đường lối quân sự và chiến tranh nhân dân đúng đắn của Đảng ta, quân đội ta.

Giờ phút huy hoàng ấy mà hai xe 390, 843 là biểu tượng, cũng là kết tinh của bao mất mát, hy sinh và chiến công của binh chủng tăng thiết giáp nói chung, lực lượng tăng thiết giáp B2 nói riêng, kế tục, tiếp nối xứng đáng các trận đánh: Làng Vây, Cửa Việt, Lộc Ninh, An Lộc, Phước Long, Xuân Lộc, Chiến dịch Hồ Chí Minh của bộ đội tăng thiết giáp.

Trong câu chuyện của vị tướng, ông nhớ về sự hy sinh của đồng đội, về những tấm gương chiến đấu anh hùng của cán bộ chiến sĩ M26, đặc biệt còn đau đáu bài học về phối hợp chỉ huy, tác chiến trong trận An Lộc. “Một nửa quân số hy sinh, bị thương, mất tích và bị địch bắt, đoàn M26 như một người vừa qua trận ốm nặng, hai tiểu đoàn tăng 20 và 21 được tăng viện từ miền Bắc vào chỉ còn 20 chiếc (Những chặng đường đời, tr 257). An Lộc với cá nhân ông, đã đi vào lịch sử binh chủng tăng - thiết giáp như “một kinh nghiệm quý để chúng ta có được thắng lợi sau đó ở Phước Long, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, mặt trận Tây Nam”.

Hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước cho Đoàn tăng thiết giáp 26 Miền (B2), nay là Trung đoàn Tăng thiết giáp 26, Quân khu 7 khiến tôi thật sự ấn tượng. Đã tham gia phối hợp với các đơn vị bạn đánh thắng địch trong chiến dịch Nguyễn Huệ; Đánh địch lấn chiếm bảo vệ vùng giải phóng sau Hiệp định Pari; Tham gia chiến dịch giải phóng Phước Long và Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975; Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến tranh biên giới Tây Nam bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế cao cả ở Campuchia.

Đã 37 năm sau giải phóng, M26 vẫn còn hơn ba trăm liệt sĩ chưa tìm được hài cốt. Ba đơn vị của Đoàn M26 là Tiểu đoàn 21, Đại đội 10-Tiểu đoàn 20 và Đại đội 33 đã được phong tặng là đơn vị Anh hùng LLVTND. Năm cán bộ của đoàn đã được tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Trong hồi ức bằng thơ cảm động của CCB Lê Đình Bình, đại đội 42, Tiểu đoàn 23, Đoàn M26 đọc cho tôi nghe tại buổi họp mặt Ban liên lạc CCB Tiểu đoàn 23 ở nhà riêng Trưởng ban liên lạc D23-Trung tá Lê Cát Lợi, mấy câu thôi đã làm những cựu binh vào sinh ra tử lặng đi:

Các anh ngã xuống với ba lô rỗng trống

Tài sản mang theo là những chiến công…

Mong các anh trở về cõi vĩnh hằng

Lòng thanh thản phiêu diêu miền cực lạc

Nếu linh hồn còn phảng phất đâu đây

Ngày 30-4 nhớ về sum họp.

Tôi hiểu, khi CCB Nguyễn Quốc Anh, Lê Cát Lợi và những CCB Tiểu đoàn 23 giới thiệu những người thật việc thật cho tôi- CCB Nguyễn Công Thành của Tiểu đoàn 20, CCB, thương binh Lê Anh Dũng của Tiểu đoàn 21- tôi tin rằng, trong sâu thẳm trái tim của các anh và những CCB khác dù ở đơn vị nào, thì truyền thống anh hùng của bộ đội tăng thiết giáp miền Đông Nam bộ từ những ngày đầu trứng nước luôn song hành với họ trong cuộc sống hôm nay, cả những hy sinh, mất mát, những trăn trở, nỗi niềm bên niềm tự hào về những chiến công chung đã trở thành bất tử.

SONG HÀ

Related keywords

Named entities
Proper nouns
Informal terms & idioms
Phrases

There is no comment

Please Sign up or Login to comment.

Top page